Lễ hội Đền Cuông
Lễ hội Đền Cuông
Lễ hội Đền Cuông
Lễ hội Đền Cuông
Lễ hội Đền Cuông
Lễ hội Đền Cuông
Lễ hội Đền Cuông
Lễ hội Đền Cuông

Giới thiệu

Giá: Miễn phí

Số điện thoại:

Thời gian tham quan tại một điểm: 120 phút

Mở cửa: 7:00 SA - Đóng cửa: 6:00 CH

Email: quangluat95@gmail.com

Địa chỉ: Xã Diễn An - Huyện Diễn Châu Xã Diễn An, Huyện Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An

ĐỀN CUÔNG – DIỄN CHÂU Đền Cuông tọa lạc trên núi Mộ Dạ, thuộc địa phận xã Diễn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đền là nơi thờ Thục phán An Dương Vương, vị vua lập nên nhà nước Âu Lạc trong lịch sử Việt Nam. Từ Đền Cuông nhìn ra phía Đông là biển Cửa Hiền ngày đêm rì rào sóng vỗ, gắn với sự kiện bi hùng của đất nước - nơi cha con Thục An Dương Vương trên đường chạy giặc gặp bước đường cùng đã được Rùa Vàng hiển linh rẽ sóng mở đường cho vua cha về với biển, cũng là nơi có ngôi mộ Công chúa Mỵ Châu; phía Tây là dãy núi Mụa có dáng voi chầu về Đền, đây vừa là một thắng cảnh, vừa là nơi tín ngưỡng linh thiêng của người dân Nghệ An lẫn du khách gần xa. Tương truyền, An Dương Vương có tên Thục Phán, là hậu duệ 18 đời của vua Hùng, trí dũng song toàn. Ông có công lớn trong việc đoàn kết các bộ lạc phía Bắc nước ta đánh tan quân xâm lược nhà Tần. Trong lễ khải hoàn, Thục Phán được tôn lên ngôi ... Xem thêm

Bản đồ

Giới thiệu

×

ĐỀN CUÔNG – DIỄN CHÂU

 

Đền Cuông tọa lạc trên núi Mộ Dạ, thuộc địa phận xã Diễn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đền nơi thờ Thục phán An Dương Vương, vị vua lập nên nhà nước Âu Lạc trong lịch sử Việt Nam. Từ Đền Cuông nhìn ra phía Đông là biển Cửa Hiền ngày đêm rì rào sóng vỗ, gắn với sự kiện bi hùng của đất nước - nơi cha con Thục An Dương Vương trên đường chạy giặc gặp bước đường cùng đã được Rùa Vàng hiển linh rẽ sóng mở đường cho vua cha về với biển, cũng là nơi có ngôi mộ Công chúa Mỵ Châu; phía Tây là dãy núi Mụa có dáng voi chầu về Đền, đây vừa là một thắng cảnh, vừa là nơi tín ngưỡng linh thiêng của người dân Nghệ An lẫn du khách gần xa.

Tương truyền, An Dương Vương có tên Thục Phán, là hậu duệ 18 đời của vua Hùng, trí dũng song toàn. Ông có công lớn trong việc đoàn kết các bộ lạc phía Bắc nước ta đánh tan quân xâm lược nhà Tần. Trong lễ khải hoàn, Thục Phán được tôn lên ngôi vua, lấy hiệu An Dương Vương và đổi tên nước thành Âu Lạc, dời đô từ Phong Châu về Cổ Loa. Sau khi được Thần Kim Quy giúp xây thành và làm nỏ thần, vua An Dương Vương hoàn toàn mất cảnh giác và đã mắc mưu của Triệu Đà. Năm 208, sau khi chiếm được nỏ thần, Triệu Đà đã cho quân tấn công bất ngờ nước Âu Lạc, vua An Dương Vương thất thế phải rút lui về phương nam, khi đến biển Cửa Hiền (ở phía bắc chân núi Mộ Dạ) đã được Thần Kim Quy đón về với Thủy Thần.

Để tưởng nhớ vua An Dương Vương, sau khi ông mất, nhân dân vùng này đã lập miếu thờ ông ở Cửa Hiền. Tuy đã có miếu thờ, nhưng mỗi khi đêm xuống, trên sườn núi Mộ Dạ xuất hiện đốm lửa lập lòe, người dân cho rằng đó chính là linh hồn của vua An Dương Vương nên họ đã lập Đền để thờ ông tại đây.

Ngôi đền được gọi là Đền Cuông nhưng ngụ ý nói Đền Công, vì Công theo tiếng Nghệ An nghĩa là Cuông. Bởi tương truyền, khu vực núi Mộ Dạ xưa có nhiều chim công (chim hạc) sinh sống, thế núi Mộ Dạ trông xa lại giống hình một con chim công khổng lồ đang múa, đầu chim chính là nơi Đền tọa lạc. Truyền thuyết và lịch sử, thực và hư, những dấu tích đã rêu phong, đã hoen mờ cùng thời gian, chỉ còn lại đó là một Đền Cuông linh thiêng. Người dân càng tin vào sự linh thiêng, huyền bí của ngôi đền khi chứng kiến những sự việc trùng lặp đến lạ kỳ. Đúng ngày khai mạc lễ hội năm 1995, chim hạc bay về Đền Cuông và đã chết một ngày sau khi lễ hội kết thúc. Cũng vào dịp lễ hội năm 1996, cá voi chết dạt vào biển Cửa Hiền. Người dân tin rằng: Hạc về là hiện thân của Công chúa Mỵ Châu hiển linh; cá voi chết dạt vào biển là minh chứng cho sự tuẫn tiết bi thương của vua Thục An Dương Vương.

Dù chưa có tài liệu lịch sử nào ghi lại chính xác thời điểm khởi dựng Đền Cuông (Diễn Châu, Nghệ An), tuy nhiên dưới thời nhà Nguyễn, Đền đã được trùng tu nhiều lần, đặc biệt vào năm Giáp Tý 1864, vua Tự Đức đã ban sắc chỉ xây dựng lại Đền với quy mô như ngày nay.

Đền có kiến trúc đẹp và vững chắc, xung quanh trồng nhiều cây xanh đan xen. Các công trình đều có cột to, tường dày nhưng không thô vì các chi tiết, hoa văn được đắp, chạm tinh tế. Đền được xây dựng theo kiểu chữ Tam, gồm Tam quan, ba tòa Thượng, Trung và Hạ điện.

- Tam quan là công trình kiến trúc đồ sộ, toát vẻ cổ kính rêu phong, gồm 3 cổng ra vào. Hai cổng bên có hai tầng, đều được thiết kế theo kiểu vòm cuốn. Riêng cổng giữa có ba tầng được bao phủ chằng chịt rễ cây si, khiến cho cảnh trí Đền Cuông càng thêm u tịch.

- Tòa Thượng điện (nơi đặt ban thờ vua An Dương Vương) và tòa Hạ điện đều có kiến trúc kiểu chồng diêm 4 mái, đầu đao cong vút. Còn tòa Trung điện là nơi đặt ban thờ Cao Lỗ, tướng giúp vua Thục chế tác nỏ thần, được kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8 mái.

Trong Đền có nhiều di vật quý như trống, chiêng, tượng thờ, đồ tế khí... và còn lưu giữ nhiều tư liệu bằng chữ Hán trên các bức hoành phi, cột, trụ biểu, nhắc nhở con cháu đời sau luôn ghi tạc ân đức vua An Dương Vương.

Lễ hội Đền Cuông được tổ chức hàng năm vào dịp rằm tháng hai Âm lịch. Đây thực sự trở thành một hoạt động văn hóa tâm linh không chỉ của người dân Diễn Châu mà của nhân dân cả nước nhớ tới ân đức của Thục An Dương.

Đến với Đền Cuông là đến với một danh thắng có nhiều phong cảnh đẹp, đắm chìm trong huyền thoại thiêng liêng đậm chất bi hùng lịch sử. Bởi thế mà không chỉ người dân Nghệ An mà du khách thập phương khi qua Đền Cuông, như một lẽ tự nhiên, đều dừng chân nơi ngôi đền lịch sử này, thắp nén nhang và hồi ức lại câu chuyện lịch sử thấm đẫm nước mắt về tình yêu, tình phụ tử trong buổi đầu của thời kỳ dựng nước. Đó cũng là cách chúng ta trở về cội nguồn, được hòa mình vào hồn thiêng sông núi của nước non Âu Lạc xưa.

Nhận xét và đánh giá


Tất cả
(Từ tổng số nhận xét)

Lịch trình mẫu

Lưu trú

Ẩm thực

Địa điểm

Giải trí